The Light That Shines Through the Universe/ Ánh sáng Xuyên Vũ Trụ- nghệ sĩ Tuấn Andrew Nguyễn- tác phẩm thứ năm ở The Plinth, thành phố New York, triển lãm từ mùa xuân 2026 đến mùa thu 2027.
Khai trương vào tháng 6 năm 2019, The Plinth là không gian nghệ thuật đầu tiên trong khu vực đường cao tuyến High Line, giao giữa Đường 30 và Đại lộ 10, với tầm nhìn bao quát thành phố, và là một trong số ít những địa điểm tại thành phố New York dành riêng hoàn toàn cho các tác phẩm nghệ thuật đương đại quy mô được triển lãm luân phiên. Các tác phẩm nghệ thuật được chọn cho The Plinth sẽ trở thành một phần của phong cảnh đô thị và được trưng bày trong vòng 18 tháng.
Tác phẩm điêu khắc bằng đá sa thạch cao hơn 7,6 mét (25 foot) này nhằm tưởng niệm hai Tượng Phật Bamiyan khổng lồ từ thế kỷ thứ 6 tại miền trung Afghanistan đã bị Taliban phá hủy vào năm 2001 trong phong trào bài trừ thánh tượng. Trước khi bị phá hủy, các Tượng Phật Bamiyan là biểu tượng của nền văn hóa trong một khu vực từng là cái nôi của nhiều tôn giáo bao gồm Hiên giáo (còn gọi là Thiện giáo), Phật giáo, Ấn Độ giáo, ngay cả khi Afghanistan dần chuyển sang Hồi giáo từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 10. Tựa đề The Light That Shines Through the Universe của tác phẩm nhắc đến biệt danh “Salsal” mà dân địa phương đặt cho bức tượng Phật lớn hơn, có nghĩa là ánh sáng soi chiếu khắp vũ trụ. Tác phẩm của Tuấn Andrew Nguyễn tại The Plinth không phải là một bản sao chính xác của Salsal, mà đúng ra là “âm vọng,” nhắc lại ký ức về văn hóa đã mất. Đặt trong khung cảnh mới, tựa đề nói lên cách các bức tượng gốc đã vượt qua sự hủy diệt vật chất để trở thành một biểu tượng về sự sống và tinh thần.
Việc sử dụng chất liệu của nghệ sĩ cũng góp phần vào chủ đề tác phẩm. Tuấn Andrew Nguyễn đã dùng các vật liệu chưa nổ (UXO) từ chiến tranh Viện Nam như bom, lựu đạn và đạn pháo, nung chảy và tạo hình lại, biến những dấu tích của bạo lực thành những biểu tượng của sự chữa lành, tinh thần kiên định và hy vọng.
Trong tác phẩm The Light That Shines Through the Universe, nghệ sĩ đã tái hiện đôi bàn tay của Đức Phật – vốn đã bị mất đi sau nhiều thế kỷ, từ rất lâu trước khi các bức tượng bị phá hủy hoàn toàn. Hai bàn tay đúc từ vỏ đạn pháo bằng đồng nung chảy và đặt theo các thủ ấn mang ý nghĩa “vô úy” và “từ bi.” Đôi tay giả này cũng gợi đến sự mất mát chi thể do mìn và vật nổ còn sót lại ở Việt Nam và nhiều nơi khác trên thế giới. Nghệ sĩ đã cố ý chừa một khoảng hở rõ rệt giữa phần tay giả và thân tượng, tượng trưng cho những thương tổn không bao giờ có thể hàn gắn được. The Light That Shines Through the Universe khẳng định sự cần thiết của việc ghi nhớ và coi nghệ thuật như lực đối trọng với chủ nghĩa hư vô và độc tài chính trị.
Trong tuần:
“Dài Thế Kỷ”- truyện vừa của Ngự Thuyết
Đời Thuỷ Thủ (3) – truyện dài Vũ Thất (Phần 8)
Chuyên đề Bùi Vĩnh Phúc- Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương:
“Nghe Tiếng Quê Hương từ Nơi Xa Thẳm”- nhận định/phê bình của TS. Nguyễn Thị Tịnh Thy về tuyển tập Bùi Vĩnh Phúc- Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương
“Những Ý Niệm Triết Học và Văn Hoá Lớn trong Một Bài Thơ Nhỏ”- nhận định của Quyên Di
(Chuyên đề sẽ tiếp tục tuần tới với các bài nói chuyện của Trần C. Trí, Trịnh Y Thư, Đặng Thơ Thơ)
Chuyên đề 50 Năm Thành Tựu Văn Học Hải Ngoại sẽ tiếp tục với:
“Trò Chuyện với Nhà Thơ Trang Châu”- phỏng vấn do Trần Thị Nguyệt Mai thực hiện
“Dì Thu”- truyện ngắn của Trang Châu
Tin Văn Học: bản tin của Đinh Từ Bích Thuý về các sinh hoạt văn hoá trong cộng đồng Việt di dân đã xuất hiện trên Asymptote, https://www.asymptotejournal.com/blog/by/thuy-dinh/ về phim Quán Kỳ Nam – đạo diễn Leon Le, nhà văn Nguyễn thị Minh Ngọc đồng tác giả kịch bản, đồng thời tường thuật buổi nói chuyện về dịch thuật tại Viet Book Fest tháng 4/26 với sự tham dự của Đặng Thơ Thơ, Trần C. Trí và Đinh Từ Bích Thuý.
Những dề lục bình trôi qua, lá xanh mướt, hoa trắng, tím, hồng tươi mơn mởn. Nàng hỏi: – Hoa gì vậy anh? Trôi lênh đênh mà đẹp dữ! Võ Bằng nhìn theo dòng nước. Một thoáng lặng. – Lục bình… Anh nói chậm hơn: – Người miền Tây… thích lắm. Dù trôi đi đâu, hoa vẫn nở, màu hoa vẫn sắt son. Biểu tượng của lòng thủy chung.
Bài thơ 16 câu, làm theo thể lục bát, ngôn từ đơn sơ, giản dị, vì tác giả viết là để thác lời một cháu bé 11 tuổi. Tài năng của một cây viết được nhìn ra ở chính chỗ này: trong những sáng tác văn chương, những bài khảo luận, nghiên cứu, phê bình văn học, Bùi Vĩnh Phúc dùng những ngôn từ lộng lẫy, thâm trầm sâu sắc để cung hiến tri thức tinh tuý cho một tầng lớp độc giả già giặn, trọng sự suy tư, yêu văn chương, am tường học thuật; mà cũng chính Bùi Vĩnh Phúc đó, khi thác lời một bé con 11 tuổi thì ngôn từ quá đỗi giản dị, đơn sơ.
Thực ra, chủ biên tạp chí Văn Học chỉ đưa ra dự đoán, chứ vào thời điểm này, từ cuối thập niên 1990 qua thập niên 2000, sinh hoạt văn học hải ngoại vẫn dạt dào, sôi động. Những tạp chí văn học giấy vẫn còn: Hợp Lưu, Văn, Văn Học, Thế Kỷ 21, Khởi Hành…Các tạp chí mạng rộn ràng phát triển, từ Talawas, Tiền Vệ đến Da Màu, Gió-O, từ Ăn Mày Văn Chương, Diễn Đàn Forum đến Đàn Chim Việt và vô số các trang mạng khác
MULHER MISTERIOSA
Pinheiro de Santamaria
1.
Một buổi tối mùa Đông trên cao nguyên.
Khung cảnh trong căn nhà này mười năm nay không thay đổi. Ông vẫn ngồi trên sofa nhìn những ngọn lửa đong đưa trong …
Tôi đi, nó đi theo tôi. Tôi trở lại, nó không trở lại. Không ai dạy tôi làm mẹ giữa biển khơi. Không ai cả. Chỉ có tiếng chân trần con tôi dò dẫm trên tấm ván ghe mục. Tiếng thở phì phò yếu ớt khi chúng kéo tôi sang tàu bên kia. Và rồi sau đó, là sự im lặng, như tro tàn, như máu khô hoà tan trong nước biển mặn.
Những bọc truyền đơn trôi lềnh bềnh trên sóng, đong đưa như những chiếc chai đựng thư cầu cứu của những người đi biển tuyệt vọng. Còn trên không, chúng tựa những cụm mây lơ lửng, chầm chậm di chuyển vào vùng ánh sáng vàng vọt của thành phố Đồng Hới. Cảnh tượng thật đẹp, một vẻ đẹp lặng lẽ và thiêng liêng đến nao lòng. Mỗi quả bóng là một sứ giả, mang theo hy vọng mong manh về sự thống nhất, về một tiếng nói tự do và niềm hy vọng cho những người dân đang sống trong màn tăm tối.
“Thời hoa mộng” với chúng tôi, nhóm bạn Tuổi Hoa còn giữ liên lạc với nhau sau nửa thế kỷ, là một “thời xanh với độ tuổi gọi là Tuổi Hoa, và dường như Tuổi Hoa không tàn theo năm tháng dù thân xác có già nua rồi bại hoại”, như Thương Nga thường bày tỏ.
Hương xưa mãi ngát trong hồn
Tuổi Hoa ngày cũ luôn còn trong tim
(Thơ Thương Nga)
Phát biểu trong dịp hội thảo này, tôi cho rằng thành tựu lớn nhất của văn học hải ngoại là sự hiện diện của nó. Hay nói một cách khác, chính sự hiện diện đã là một thành tựu. Nhờ nó, những người thua cuộc và cộng đồng lưu vong có tiếng nói. Những đau khổ, lưu lạc được ghi lại. Một Việt Nam khác đuợc tồn tại và đi vào lịch sử, tránh việc bị bên thắng cuộc triệt tiêu và xóa bỏ. Nhờ nó, những dòng văn chương cũ được giữ gìn, được phục hồi, không những thế, được nối dài và mở rộng. Chính vì thế, một mặt, văn học hải ngoại có vẻ như tách khỏi quê hương hay (bị lên án) chống lại quê hương, nhưng mặt khác, về lâu về dài, nó lại là cầu nối giữa hải ngoại và quê hương. Đó là hành trình “trở về”
Anh biết em có một ngôi nhà nhưng không để ngủ
Nơi anh đã từng ở lại để ngửi mùi những đám mây
Anh cũng biết em còn nhiều ngôi nhà khác và cũng không để ngủ
Bởi vì em không được sinh ra hay chết đi trên một cái giường
Mai Thảo, như chúng ta đều biết, là một trong những nhà văn trụ cột của văn học miền Nam. Di cư vào Nam năm 1954, cùng với nhóm Sáng Tạo, Mai Thảo chủ trương đoạn tuyệt với quá khứ, lên đường xây dựng một nền văn học mới. Hoài bão lớn lao nhưng chưa rõ ràng, hãy còn «viễn mơ.»
CÂU HỎI CHUNG – VỀ VĂN HỌC HẢI NGOẠI
1. Theo anh/chị, có phải biến cố 30/4/1975 là nguyên nhân phát sinh ra Văn Học Hải Ngoại? Nếu có thể, xin anh/chị nêu lên vài đặc …
Không phải một, mà là một chuỗi ba cơn sóng khổng lồ liên tiếp, cao như dãy núi, ập thẳng vào mũi và thân tàu. Rạch Gầm bị hất bổng lên, rồi rơi tự do xuống một hố sâu. Mọi người cảm giác hụt hẫng, thót tim. Thân tàu kêu răng rắc như thể sắp vỡ toang ra từng mảnh.
Lê Thị Huệ nói thẳng, không một chút ấp a ấp úng:
“Thế giới chữ nghĩa nghệ thuật Hải Ngoại là một thứ sinh hoạt vô tổ chức. Không có chính phủ nào ra lệnh phải sáng tác theo chỉ đạo nào. Không có nền chính tả học đường nào kiểm soát những điều chúng tôi viết. Ai muốn viết gì thì viết. Ai muốn xuất bản gì thì xuất bản. Ai muốn phê bình gì thì phê bình. Một thế giới cực kỳ vô tổ chức vô địa lý vô quốc gia. Thế nhưng cũng từ đó chúng tôi tự kỷ luật (self-discipline).”[11]
Một phát biểu chắc nịch, lạ tai, tưởng như “quá đáng”, nhưng hoàn toàn chính xác.
Mạng lưới toàn cầu xuất hiện ngày 30 tháng 4 năm 1993 là một bước nhảy thần kỳ của thời đại internet. Những computer, iPhone, Ipad dần dần thay thế giấy mực, khiến những tủ sách gia đình trang trọng và nghiêm túc thành đồ cổ. Các tạp chí in (Văn Học, Văn, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Việt) lần lượt đóng cửa. Văn chương in chuyển qua văn chương mạng. Khởi đầu với “Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng” (1995-2004), được nối tiếp với “Talawas” (2001-11/2010), “Gió-O” (từ 2001), “Tiền Vệ” (2002-2018), rồi “Da Màu” (từ 2006), “Diễn Đàn Thế Kỷ” (2010-2022), “Thế Kỷ Mới” (từ 9/2025)…
1.
Bài luận văn tả bố
Bố tôi trồng hoa. Cả cái làng chài chỉ nhà tôi có một cái cổng kết bằng hoa giấy, và một lối đi trải sỏi dẫn từ cổng vào tận cửa …
hơi tết chưa tan
tháng ba
rồi
tháng tư
vụt đến
sông vẫn trôi
trời vẫn nắng
cỏ cây vẫn mọc
tin dữ dồn về
phố phường nao núng
ghế bàn gạo cơm
giày dép sách vở mũ nón
áo hồng áo xanh
quần dài váy …
Trong một giai đoạn lịch sử cực đoan kéo dài gần hai thập niên, hải ngoại không chỉ là một không gian địa lý, mà là hy vọng, là cứu chuộc, là dung thân. Là gian nan trốn chạy, vượt thoát, từ bỏ, và…đánh mất. Là hành trình tử sinh, là gánh định mệnh, là kiếp khác. Đi cái đã. Chết, cũng đi. Để đến một nơi chẳng có gì ngoài những cái “không”: không chính phủ, không ngân sách, không công an, không trường ốc, không đất đai, không tiếng Việt, không chữ Việt và không…tương lai. Cũng đành.
Giếng không sâu, nhưng nước lúc nào cũng đục. Người già trong vùng bảo: đó không phải giếng, mà là “mắt sông.” Là chỗ nước dưới lòng đất ngoi lên thở. Mà thứ gì biết thở thì không phải chỉ là nước.
Cầm một cuốn sách cao siêu gì đấy
hay là bị cuốn sách cầm tù?
Lũ con chữ vẫn thầm thì ma quái:
Thời mày còn sống là tốt rồi
hãy ngưỡng mộ các phu nhân hàng hiệu.
Giọng nàng mềm hơn, “Anh có tin vào sự linh ứng của Đức Thánh Trần?” “Tin chứ. Nhưng không theo nghĩa siêu nhiên. Thánh không vì phép lạ. Thánh là đạo lý, là sức mạnh tinh thần. Tôi tin vào điều đó.”
Đi ngược thời gian —
Mùa thu 1976, miền trung tây nước Mỹ
Nguyên tác: HER NINE WORDS – Ng. Uyen Nicole Dương
Trích từ truyện ngắn đầu trong tuyển tập truyện ngắn cùng tên, Chín Chữ của …
Đêm nào anh cũng để dành cho con chuột đúng mười hạt cơm.Cơm đã nguội. Những hạt cơm rời rạc và có mùi nhà kho chứa đồ cũ. Anh ăn chậm, nhai kỹ. Gần cuối …
Tất cả những lời khai của mười chín lần “làm việc” đều đúng sự thật và giống nhau từng câu từng chữ. K dám chắc những chỗ xuống hàng cũng giống nhau. Gian dối chỗ nào.
Ở đó sẽ có những thành phố và núi non
như hiện nay,
và những đạo quân bọc thép
diễu hành qua những quảng trường vắng hoe
Anh quay lại chào từ giã cô Hiệu trưởng và các cô giáo. Khi anh đến cửa, cô giáo đeo kính bước tới, giọng nhẹ như gió:
– Đại úy… thật sự không nhận ra em sao?
Tháng Tư đi qua như một lưỡi dao.
Mùa hè năm 1975, trong công viên có nhiều cây cao bóng mát trước dinh Độc Lập về phía nhà thờ Đức Bà, tôi gặp một người đàn ông áo quần rách rưới, ngồi trên băng ghế đá.
Nhiều năm sau, người ta vẫn thấy một ông già ngồi vá lưới ở mép biển, ngay cái khoảng đất nhỏ xíu còn sót lại giữa những dãy resort sáng choang như ban ngày. Ánh đèn đổ xuống mặt nước lấp loáng mà lạnh. Khách du lịch đi ngang cười nói rộn ràng, đưa máy lên chụp lia lịa như sợ lỡ mất một khoảnh khắc “chân thật”.
Bình Luận mới