Tác Phẩm: trong loạt Social Consequences
Nghệ sĩ Otobong Nkanga – triển lãm I dreamt of you in colours tại Malmö Konsthall là triển lãm quy mô lớn đầu tiên của Nkanga tại Thụy Điển. Triển lãm quy tụ các tác phẩm nhiều thể loại theo phong cách thực hành nghệ thuật đa ngành của cô, bao gồm tranh vẽ, tranh màu, đồ hoạ, các tác phẩm sắp đặt, thảm thêu, nhiếp ảnh, video, điêu khắc, gốm sứ và nghệ thuật trình diễn. Triển lãm này tiếp nối các đợt trưng bày trước đó tại Bảo Tàng Nghệ Thuật Hiện Đại Paris (Musée d’Art Moderne de Paris) và Bảo Tàng Mỹ Thuật ở Lausanne (Musée cantonal des Beaux-Arts).
Toàn bộ triển lãm cho thấy quy mô và tầm vóc đáng nể của Nkanga trong việc kết hợp các hình thức nghệ thuật đa dạng để thể hiện mối quan hệ phức tạp giữa cơ thể, đất đai và tài nguyên thiên nhiên, qua đó truy tìm những dấu tích lịch sử, xã hội và chính trị ẩn sâu trong chất liệu và phong cảnh. Nghệ thuật của cô chiếu vào những ảnh hưởng kéo dài của chế độ thuộc địa, việc khai thác tài nguyên, đồng thời tìm hiểu sự hỗ tương giữa con người và hệ sinh thái, cũng như những khả năng hàn gắn và chuyển hoá.
Chất liệu: Tranh vẽ bằng màu acrylic và nhãn dán trên giấy
Chủ đề: Tác phẩm tái hiện chuỗi mắt xích phức tạp của việc khai thác và tàn phá tài nguyên, suy thoái môi trường và tác động đến con người — đặc biệt lấy cảm hứng từ vùng đồng bằng sông Niger bị quân sự hoá và ô nhiễm dầu mỏ ở Nigeria.
Bố cục: Được cấu trúc theo các ô/mảng nối tiếp nhau từ trái sang phải, tác phẩm sử dụng các đường nét biểu đồ, các yếu tố công nghiệp và hình ảnh con người để phác hoạ mối quan hệ nguyên nhân-hậu quả giữa việc khai thác đất đai và hệ sinh thái.
BÀI TRONG TUẦN
Những Đêm Trăng Tròn – Truyện ngắn của Văn
Trong ngăn kéo – Thơ của Quảng Tánh Trần Cầm
31 Phút – Trích đoạn tiểu thuyết của Lê Thị Thấm Vân
Thử Bàn Về Nhận Định Giá Trị Văn Chương Việt Nam Ở Môi Trường “Hải Ngoại” – Khảo luận của Dương Như Nguyện
Nguyễn Bắc Sơn: giữa ngông nghênh và trầm mặc – một thời thơ đáng nhớ (1 & 2) – Đọc và đọc lại của Ngô Tấn Tuân
Hai người ngồi yên, như hai người xa lạ cùng chờ một chuyến xe đêm. Những tháng sau đó, họ bắt đầu trò chuyện. Chỉ trong những đêm trăng tròn, mỗi tháng một lần, vài giờ ngắn ngủi. Ông kể về tuổi trẻ, về chiến tranh, về chuyến vượt biển, về những người đã không kịp đến bờ. Linh kể về công việc, những chuyến bay, những thành phố, những ngày cô sống một mình – không gia đình, không người yêu, không ai đợi về nhà. Họ lắng nghe nhau nhiều hơn nói.
Hôm nay, tôi viết về Nguyễn Bắc Sơn. Đọc kỹ thơ ông, tôi càng có cảm giác đây là một tài năng thơ bẩm sinh, có bản sắc riêng và sức sáng tạo đáng chú ý, nhưng dường như vẫn chưa được nhiều độc giả biết đến, tương xứng với giá trị thơ ông.
Tháng Mười, Lễ Tạ Ơn Canada. Ở Hoa Kỳ một tháng rưỡi sau, vì mùa gặt ở Canada đến sớm hơn. Buổi tối, cả nhà ngồi bên lò sưởi, quanh bữa tiệc gà tây quay chín thơm lừng, trong mùi rượu vang. Tôi nói thầm trong lòng mình hai chữ Tạ Ơn. Tạ ơn một đất nước đã cưu mang người Việt trên đường lưu vong.
một tiếng gọi ngoài hành lang khác
một mùi da thịt mồ hôi khác
một ngày mai khác
“Mày nghĩ ra cách nào không ác thì nói ra đi,” chủ nhà ngắt lời. Đứa lùn tịt chậm rãi, “Tao thấy bỏ nó vào bao bố, dìm nó vào chậu nước.” “Hay đấy,” chủ nhà tán đồng. “Mình không trông thấy mắt nó lúc ấy, mình không bị ám ảnh, không bị mặc cảm tội lỗi.” “Tao thấy…” đứa cận thị ngần ngừ. “Tao thấy giống như người ta giết nhà văn Khái Hưng.” “Mày đọc sách cho lắm vào!” Đứa chủ nhà văng tục. “Mẹ kiếp! Cái gì cũng liên tưởng chuyện nọ chuyện kia thì đói cả đời.
Bài thơ Clive Song là lời ca ngợi dành cho Clive. Clive là tên riêng, cách gọi thân mật, của người bạn của Anne Carson. Anh được giới thiệu là một người Anh. Tuy vậy đây không phải là câu chuyện về tiểu sử Clive, thậm chí chúng ta không biết nhiều về anh.
Một con chim lướt ngang chập choạng
rồi cơn giông bắt đầu. Chúng ta không nghĩ
về tốc độ trong đời. Chúng ta không nghĩ
tại sao ghét Jezebel?…
Đây là phép màu của những mảnh vụn (fragments)—điều mà Fragment 31 của Sappho bị đứt quãng đưa ta đến một ý tưởng không bao giờ nắm bắt được. Có một khoảng trống nơi một ý tưởng đáng ra phải hiện hữu, nhưng ta không thể nắm bắt được nó. Tôi yêu khoảng trống đó.
Nàng đến giữa đời, nở hoa, rực rỡ, toả ngát hương mênh mang, chập chùng bát ngát núi đồi. Rồi bất thình lình gãy cánh, hoa Dạ Thảo rụng xuống, ngọn cỏ đêm thình lình …
Bây giờ nhớ lại, tôi hiểu có lẽ Ba không chỉ nói về chuyện đúng sai của những bản tin. Ông muốn nhắc rằng giữa sự kiện đã xảy ra và câu chuyện được kể lại luôn có một khoảng cách nào đó. Người nghe, người đọc không phải lúc nào cũng nhìn thấy toàn bộ sự thật. Mà chính người viết sử cũng không đứng ngoài những giới hạn của thời đại mình.
Có điều gì ở tiếng Hy Lạp dường như đi sâu vào cội rễ của ngôn từ hơn bất cứ ngôn ngữ hiện đại nào. Cho nên khi ta đọc nó, ta sẽ được đưa đến tận cùng cội nguồn xúc tác của ngôn từ, trong khi ở tiếng Anh, chúng ta vẫn đang ngồi vắt vẻo trên ngọn cây, giữa những cành lá, chỉ dập dình chung quanh. Ý tưởng này làm tôi choáng ngợp, một khải thị. Và tiếp tục làm tôi choáng ngợp, luôn luôn chào đón tôi như một bến bờ. Xa lạ, nhưng luôn luôn chào đón.
Khi đọc, tôi suy nghĩ về tựa đề “Khoảng Trống Để Ra Ngoài.” Dù cụm từ này không xuất hiện trực tiếp dưới dạng chữ nghĩa trong văn bản, nó là chiếc chìa khóa tư tưởng và triết lý ẩn trong nội dung, bối cảnh và số phận của các nhân vật trong truyện, gồm cả vị Cư Sĩ, chú tiểu, con chim và bầy chó. Cung Tích Biền đã kín đáo giấu chiếc chìa khoá này vào những khoảng trống vô hình trong truyện. Có thể hiểu tựa đề “Khoảng Trống Để Ra Ngoài” theo hai cách: ‘khoảng trống để chúng ta thoát ra ngoài,’ và ‘khoảng trống đặt ra bên ngoài.’
Kể từ đêm hôm ấy, đêm quan san, đêm tím tái đỏ, một đêm tối giăng, một đêm tối hơn những đêm còn lại, một đêm, Lãnh Đạo bảo, một đêm vô sản, phố K. chỉ còn là một lịch sử buồn. chỉ còn phố Tự-Do. lịch sử của phố K. bao giờ cũng là một lịch sử buồn, một nỗi buồn tím tái.
Anh có nghe bước chân của các ngân hàng tiến lại
tiếng sột soạt của tấm băng rôn trong gió
chuông chùa luôn gợi nhớ chuyện nợ nần.
Giữa năm 2024, tôi nhận được một hộp quà tặng từ quê nhà. Đó là hộp đựng sách, nặng gần 2,5 kg. Hai mặt hộp, phía trước và phía sau, là tranh minh họa của …
Trong một tác phẩm cùng tựa đề, Nhà Văn Cung Tích Biền đã có lần từng ước muốn “Không nên có mặt.” Tuy nhiên, như một định mệnh, ông vẫn sống, có mặt và phải chứng kiến đầy đủ mặn ngọt cuộc đời suốt hơn 90 năm như một chứng nhân của thời cuộc…
GRASSGROND (1887) – Vincent van Gogh
Tôi nghĩ đến Dạ Thảo ngày hôm nay
Khi bưng bát cơm ăn
Nhớ lại bữa cơm duy nhất của chúng ta ở Sài Gòn
Gần bến xe miền Đông, trong chiều hè …
Đây chính là một trong những giá trị lâu bền nhất của Montaigne: triết học không nhất thiết phải bắt đầu từ những hệ thống đồ sộ; đôi khi nó bắt đầu từ một con người bình thường biết dừng lại, quan sát chính mình và thành thật đặt câu hỏi: “Tôi biết gì?”
Điều chúng ta muốn chạm tới
chưa thành hình
Chúng ta không thôi sống
vì điều chưa chạm được
Không phải tác phẩm ở một bên và cuộc đời ở một bên, rồi ta cố tìm vài chiếc cầu cho chúng gặp nhau. Có thể đơn giản hơn: người viết đem vào câu chữ chính cái con người đã sống, đã chịu đựng, đã nhìn, đã sai, đã mất, đã tìm đường trở lại với mình. Văn chương nếu có sức nặng lâu dài, đôi khi không phải vì nhà văn đứng cao hơn cuộc đời, mà vì họ đã đi đủ sâu vào nó mà vẫn còn mang được một cái gì đó trở ra.
“Ngọn lửa kia đã tàn trong thiên thu. Con cháu Người-Đốt-Lửa hãy còn. Lửa ấy không chỉ là một thứ ánh sáng vô cảm, trong một xã hội máy móc, lạnh lùng. Lửa ấy cũng không siêu nhiên xa lạ, cũng không nằm chết trong ý nghĩ hạn hẹp hiện thực của lửa. Nó có thể đã biến thành một dạng ánh sáng khác: đậm đà như ca dao, rực rỡ như lời ca hạnh phúc, hay ngậm ngùi như tiếng hát gọi nát lòng của những thân phận hẩm hiu của Mẹ, của Giao Châu.”
I
Họ đã ở trong rừng một tuần.
Ban ngày, ánh nắng lọt xuống thành từng vệt mỏng giữa những tầng lá chồng lên nhau. Có những thân cây lớn đến bốn, năm người ôm không xuể. …
Thái độ ứng xử trong tác phẩm của Nguyễn Viện thường không né tránh chính trị, ông phơi bày sự thật ê chề của nhân thế, với cái nhìn cay đắng, châm biếm, phản kháng và trực diện. Nhân vật trong tác phẩm cuả ông hiện lên giữa những đổ vỡ đạo đức, bị chi phối bởi bản năng và dục vọng.
Mùa mưa năm đó, biển lấy thêm hai mét đất. Một đoạn đường ven đảo bị sập xuống. Người dân mang đá đến đắp lại. Một tháng sau, sóng cuốn mất số đá ấy. Họ lại mang số đá khác tới. Không ai nói chuyện thắng hay thua thiên nhiên. Họ chỉ làm những việc cần làm.
Sau tất cả những gì chiến tranh gây ra cho người Việt Nam, một nhà văn còn có thể để lại điều gì? Có lẽ là khả năng nhìn thấy con người ngay cả khi con người bị ý thức hệ che khuất. Vì vậy, Cung Tích Biền không phải chỉ là một nhà văn miền Nam trước 1975. Anh là một nhà văn Việt Nam, của một dân tộc đã đi qua những đổ vỡ mà đến nay vẫn chưa hoàn toàn hàn gắn. Anh đã “sống trong phòng đợi của lịch sử” hơn chín mươi năm. Ngày 9 tháng 9 năm 2026, anh ra khỏi căn phòng ấy.
Khoảng đâu năm 2004, tôi có về Việt Nam vài tuần. Lúc đó Dạ Thảo đã qua lại Việt Nam, có thể đang ấp ủ dự án xây Làng Nghệ Sĩ Đào Nguyên tại Đà …
Hồ Trường có lẽ không cần được bảo vệ bằng cách tách nó hoàn toàn khỏi Nguyễn Bá Trác, cũng không cần bị hạ thấp vì những lựa chọn về sau của ông. Chính sự căng thẳng giữa tác phẩm, tác giả và lịch sử đời người làm cho bài ca trở thành một trường hợp đặc biệt của đời sống văn chương: tác phẩm được sinh ra trong một hoàn cảnh, nhưng ý nghĩa của nó không bao giờ hoàn toàn thuộc về hoàn cảnh ấy.
Trong đời sống chính tôi, phụ nữ bị vô hình hóa, ở nơi công cộng và ngay cả trong ngôn ngữ. Tôi còn nhớ những lần các nhà báo nam giới vốn rất chu đáo, khi nhìn vào một phòng đầy phụ nữ, đã thông báo: “Ở đây chẳng có ai cả.” Hoặc khi tôi cùng những người phụ nữ khác có một ý kiến nào đó, cách duy nhất để chúng tôi lên tiếng là nhờ người đàn ông ngồi bên cạnh phát biểu thay.
Bình Luận mới